Dấu hiệu ung thư thận

Nam giới bị ung thư thận nhiều gấp đôi nữ

Ung thư thận chiếm khoảng 3% các loại ung thư ở người lớn. Bệnh thường xuất hiện ở người trên 40 tuổi, tỷ lệ mắc ở đàn ông cao gấp đôi phụ nữ.

Theo một nghiên cứu chuyên ngành ung thư, tỷ lệ mắc ung thư thận (u ác tính nguyên phát của nhu mô thận) trên 100.000 người ở Việt Nam là 1,13%. Nhiều nhà khoa học nghi ngờ rằng, thuốc lá có thể là nguyên nhân gây ra căn bệnh này, vì người nghiện thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh cao gấp đôi so với người không hút thuốc lá.

Đi tiểu ra máu – triệu chứng điển hình

Biểu hiện rõ nhất ở người bị ung thư thận là đi tiểu ra máu (xuất hiện ở 80% trường hợp) mà không đau, không kèm theo sốt. Có người đau âm ỉ vùng thắt lưng, sau đó lan ra trước hoặc xuống dưới do u phát triển làm căng bao thận. Nhiều người bệnh bị đau quặn thận khi có cục máu di chuyển xuống bàng quang. Nếu khối u vỡ đột ngột, sẽ xuất hiện hiện tượng chảy máu sau phúc mạc.

Ngoài các dấu hiệu trên, 3% – 10% bệnh nhân ung thư thận xuất hiện những triệu chứng như sốt 39 – 40 độ C trong nhiều tuần liền, sức khoẻ giảm sút không rõ nguyên nhân. Ở một số người bệnh, nồng độ canxi trong máu tăng, xuất hiện triệu chứng đa hồng cầu kèm theo đau đầu, mệt mỏi, chóng mặt, ngứa ở các chi hoặc rối loạn thị giác.

Dựa vào những triệu chứng đa dạng của bệnh cộng với phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, bác sĩ có thể phát hiện bệnh từ rất sớm, khi khối u còn nhỏ, khu trú ở trong thận.

Các xét nghiệm cần làm

Qua xét nghiệm sinh hoá (bao gồm công thức máu, tốc độ lắng máu, canxi máu, phosphatase kiềm, chức năng thận, chức năng gan), bác sĩ đánh giá được chức năng của thận, tình trạng toàn thân để từ đó phát hiện các dấu hiệu của hội chứng cận ung thư.

Qua chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ theo dõi được sự phát triển của khối u (nếu có). Siêu âm là biện pháp nên sử dụng trước tiên vì dễ sử dụng, không gây nguy hiểm cho bệnh nhân và khả năng phát hiện ung thư rất cao. Siêu âm cho phép chẩn đoán u đặc ở thận (ngay cả với u nhỏ, chưa có biểu hiện lâm sàng), di căn vào tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chủ, hạch ở cuống thận.

Trước đây, chụp động mạch thận là phương pháp hình ảnh quan trọng nhưng hiện được thay thế bằng chụp cắt lớp vi tính, một phương pháp cho phép xác định tính chất và đánh giá sự xâm lấn của u. Trên hình chụp, ung thư thận được thể hiện như một khối u đặc, không đồng nhất, tỷ trọng ngang hoặc kém so với nhu mô lành của thận. Chụp cắt lớp vi tính cho phép phát hiện khối di căn vào rốn thận, mô quanh thận, tĩnh mạch thận và thượng thận, các cơ quan lân cận.

Phương pháp cộng hưởng từ cho phép bác sĩ phát hiện mầm ung thư di căn vào tĩnh mạch thận hoặc tĩnh mạch chủ và các cơ quan khác một cách chính xác mà không phải dùng chất cản quang.

Chụp nhấp nháy hệ thống xương giúp chẩn đoán sự xâm lấn và di căn của ung thư đến mức độ nào, từ đó bác sĩ sẽ có tiên lượng chính xác và đề ra phương pháp chữa trị thích hợp. Tuy nhiên, chỉ nên chụp nhấp nháy hệ thống xương khi người bệnh thấy đau xương và xét nghiệm thấy nồng độ phosphatase kiềm cao.